Ở thời điểm hiện tại (cuối tháng 4 năm 2026), động lực phát triển của các doanh nghiệp tại Việt Nam có lẽ vẫn là làm sao để tồn tại, tiếp tục phát triển hoặc duy trì sự ổn định để tăng trưởng bền vững. Tuy vậy, dù ở vai trò, vị thế nào mỗi doanh nghiệp đều phải đang chống chọi, vật lộn trong hoàn cảnh cơ bản là rất khó khăn hiện nay để duy trì động lực mà mình theo đuổi.
Có thể nói, thế giới trong những năm qua đang trải qua những biến động phức tạp, khó lường, kinh tế toàn cầu chịu tác động mạnh mẽ từ nhiều yếu tố: Suy thoái kinh tế, lạm phát gia tăng, xung đột địa chính trị và đặc biệt là sự bùng nổ của công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI)1. Trong bối cảnh đó, Việt Nam cũng đối mặt với những thách thức không nhỏ2. Nhiều doanh nghiệp phải tạm dừng hoặc rút lui khỏi thị trường trong thời gian này như là một cách “đóng băng” hoạt động để tái cơ cấu, tìm kiếm cơ hội mới và chuẩn bị cho sự quay trở lại thị trường khi điều kiện thuận lợi hơn3. Những kế hoạch phát triển hoặc dự tính đầu tư kinh doanh đều phải chậm lại, chờ qua giai đoạn trì trệ hiện nay.
Tình trạng4 này phản ánh những khó khăn mang tính căn cơ mà cộng đồng doanh nghiệp đang phải đối mặt, cụ thể:
Thứ nhất, sức cầu thị trường phục hồi chậm: Tại thị trường hiện giờ, sức mua hầu như sụt giảm cả về số lượng lẫn chất lượng. Người tiêu dùng trong nước e dè hơn trong chi tiêu và có xu hướng thắt chặt hầu bao. Trong khi đó, thị trường xuất khẩu chưa phục hồi như kỳ vọng, trong khi cạnh tranh ngày càng gay gắt cũng như xung đột địa chính trị làm ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng xuất khẩu bình thường như trước. Điều này khiến doanh nghiệp khó mở rộng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm chậm, dòng tiền bị thu hẹp và làm gia tăng nguy cơ phải tạm ngừng hoặc chấm dứt hoạt động.
Thứ hai, chi phí đầu vào tiếp tục gây áp lực lớn: Chi phí nguyên vật liệu, năng lượng, logistics và chi phí tài chính vẫn ở mức cao, trong khi khả năng điều chỉnh giá bán của doanh nghiệp bị hạn chế. Áp lực chi phí kéo dài làm suy giảm biên lợi nhuận, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả SXKD và khả năng tái đầu tư của doanh nghiệp.
Thứ ba, khả năng tiếp cận vốn còn nhiều khó khăn: Lãi suất vay vốn và điều kiện tiếp cận tín dụng vẫn là rào cản lớn, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhiều doanh nghiệp thiếu tài sản bảo đảm, khó tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi, dẫn đến thiếu hụt dòng tiền để duy trì và mở rộng hoạt động.
Thứ tư, năng lực tài chính và khả năng chống chịu còn hạn chế của doanh nghiệp: Phần lớn doanh nghiệp trong nước có quy mô nhỏ, năng lực tài chính mỏng, phụ thuộc nhiều vào thị trường nội địa. Khi thị trường biến động và chi phí gia tăng, doanh nghiệp dễ rơi vào thế bị động, buộc phải thu hẹp quy mô hoặc rút lui khỏi thị trường. Đây cũng chính là rào cản lớn nhất đang hạn chế sức bật của khu vực doanh nghiệp trong nước. Hạn chế về năng lực tài chính và khả năng thích ứng trước biến động là yếu tố cốt lõi làm giảm sức bật và tốc độ phục hồi của doanh nghiệp
Bức tranh phát triển vĩ mô của nền kinh tế Việt Nam lấy doanh nghiệp làm chủ thể trung tâm cho thấy khả năng chống chọi, cầm cự còn hạn chế của các doanh nghiệp Việt Nam trước môi trường kinh doanh ngày càng khắc nghiệt hiện giờ.

Bài toán với các yếu tố về sức mua, nhu cầu của khách hàng/người tiêu dùng tự nhiên sụt giảm, chi phí đầu vào tăng không ngừng, năng lực tài chính và khả năng tiếp cận vốn khó khăn hiện vẫn chưa có lời giải đáp thỏa đáng khi mà mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp vẫn phải tiếp tục cầm cự, tìm hướng ra trong môi trường kinh doanh thiếu thuận lợi hiện nay.
Chú thích:


Bình luận về bài viết này