DẤU HIỆU PHÁP LÝ XÁC ĐỊNH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

By

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ Luật hình sự năm 2015.1 Tuy nhiên, muốn tố giác, truy tố tội phạm này trước pháp luật, không phải là điều dễ dàng. Trước hết, với loại tội này, người phạm tội sau khi thực hiện hành vi thường xóa dấu vết tội phạm và bỏ trốn. Do đó, nạn nhân hay các cơ quan cảnh sát điều tra sẽ gặp khó khăn trong việc truy vết, thu thập, đánh giá chứng cứ, xác định đối tượng phạm tội.

Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi của mình, chúng ta cần phải nắm rõ các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản một cách rõ ràng để đề phòng cũng như xác định chính xác tội danh nếu bị xâm hại.

1. Về dấu hiệu khách thể:

Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là “quan hệ sở hữu” được bảo vệ bởi pháp luật. Đối tượng tác động của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là tài sản.

Căn cứ vào Bộ luật Dân sự 2015, thì quyền sở hữu tài sản bao gồm 03 quyền: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt. Khi có đầy đủ 3 quyền này thì một người mới thật sư sở hữu tài sản. Do đó, nếu một người chỉ có quyền chiếm hữu, quyền sử dụng tài sản thì họ không phải là chủ sở hữu vì không có quyền định đoạt tài sản. Nói dễ hiểu thì mới có hành vi “chiếm” mà chưa “đoạt” thì không phải là chiếm đoạt. Vì vậy, chiếm đoạt là biến của người khác thành của mình, là làm cho tài sản rời khỏi chủ tài sản một cách bất hợp pháp và tạo khả năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản cho một người khác

2. Về dấu hiệu khách quan:

Dấu hiệu khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản liên quan đến hành vi gian dối – đưa ra thông tin giả. Về mặt chủ quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chính là việc người phạm tội nhận thức được đó là những thông báo, thông tin giả nhưng muốn người khác tin tưởng là thật.

Hình thức thực hiện: thông qua lời nói, xuất trình các tài liệu giả mạo, hoặc các động thái riêng. Mục đích của hành vi nhằm tạo ra sự đồng ý của nạn nhân và họ sẽ tự nguyện từ bỏ quyền sở hữu của mình.

Về hành vi chiếm đoạt, đó là “hành vi cố ý biến đổi trái phép tài sản dưới sự kiểm soát của chủ sở hữu thành tài sản của chính mình”. Nói cách khác, hành vi chiếm đoạt là hành vi làm cho chủ sở hữu tài sản đó mất năng lực thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, vứt bỏ tài sản của mình và cho phép người chiếm đoạt được thực hiện đúng quyền của mình. Chiếm hữu, sử dụng tài sản đó một cách bất hợp pháp.

3. Về dấu hiệu chủ thể:

Chủ thể của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015 thì chỉ có thể là cá nhân. Cá nhân phạm tội là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ đuổi luật định và đã thực hiện hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản.

Trong Bộ Luật hình sự và Bộ Luật dân sự năm 2015 không quy định thế nào là người có năng lực trách nhiệm hình sự mà chỉ quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự tại Điều 21. Trên cơ sở các quy định đó khoa học luật hình sự đã đưa ra định nghĩa về người có năng lực trách nhiệm hình sự là “người đã đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và không thuộc trường hợp ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự.

4. Về dấu hiệu chủ quan:

Đây là mặt bên trong của tội phạm, thể hiện trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi phạm tội.

Dấu hiệu lỗi: Điều 174, Bộ luật Hình sự hông nêu dấu hiệu lỗi của người phạm tội. Tuy nhiên, nếu xét theo bản chất và tính chất của hành vi này thì sẽ là lỗi cố ý trực tiếp với mục đích chiếm đoạt chiếm sản.

Trong đó, người phạm tội biết, hiểu rõ tính chất nguy hiểm của hành vi của mình, thông tin mình đưa ra, cung cấp là hoàn toàn giả tạo, không trung thực, và có nguy cơ gây nguy hiểm cho xã hội, hành vi của mình là xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp của nạn nhân. Tóm lại, bên trong nhận thức của tội phạm đã ý thức được hành vi của mình là bất hợp pháp, gây ra hậu quả nghiêm trọng như thiệt hại về tài sản, xâm phạm quyền lợi của người bị hại và cuối cùng là gây nguy hiểm cho xã hội.

5. Về các yếu tố khác:

Thứ nhất, phải xác định có việc chiếm đoạt hay không? Chỉ khi nào xác định có chiếm đoạt thì lúc đó mới là tội phạm. Sau khi có việc chiếm đoạt tài sản, chúng ta xác định tiếp nếu thủ đoạn gian dối phải có trước khi người phạm tội đã nhận được tài sản của người khác.

Thứ hai, phải xác định họ có mục đích chiếm đoạt tài sản hay không? Nếu có, khi khẳng định có trường hợp tội phạm có hành vi gian dối trước khi có tài sản thì đây là lừa đảo chiếm đoạt tài sản. 

Thứ ba, có việc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản? Việc bỏ trốn không phải là bỏ đi khỏi nơi cư trú, làm việc hay ra khỏi địa phương mà còn có thể là bỏ ra khỏi nhà, không nghe điện thoại, không trả lời tin nhắn, thay số điện thoại, thay đổi chỗ ở mà không thông báo cho người bị hại biết… miễn sao tránh mặt được nạn nhân.

Chú thích:
  1. Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
    1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
    a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
    b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ Luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
    c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
    d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.
    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
    a) Có tổ chức;
    b) Có tính chất chuyên nghiệp;
    c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
    d) Tái phạm nguy hiểm;
    đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
    e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
    g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc 1 trong các trường hợp quy định tại điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.
    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
    a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
    b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
    c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
    4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
    a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
    b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc 1 trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
    c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
    5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. ↩︎
Posted In ,

Bình luận về bài viết này