Quyền tự chủ kinh doanh là gì?
Quyền tự chủ đăng ký kinh doanh là quyền của các chủ thể kinh doanh được tự do lựa chọn hình thức, ngành nghề, địa bàn, quy mô và phương thức kinh doanh, không cần phải xin phép hoặc chờ sự chấp thuận của cơ quan nhà nước, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện hoặc bị cấm theo quy định của pháp luật.
Nghĩa là các chủ thể kinh doanh có quyền tự do sau đây:
- Chọn địa bàn, lĩnh vực đầu tư, kinh doanh;
- Chọn hình thức đầu tư, kinh doanh;
- Quyết định quy mô đầu tư, kinh doanh;
- Liên doanh, liên kết đầu tư, kinh doanh;
- Hoạt động kinh doanh theo nội dung Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh/Gỉấy chứng nhận đầu tư/Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp/đăng ký hợp tác xã;
- Bảo đảm tuân thủ các điều kiện kinh doanh.
Quyền tự do kinh doanh được quy định như thế nào trong pháp luật Việt Nam?
Theo Điều 33 Hiến pháp 2013, quyền tự do kinh doanh là một trong những quyền cơ bản của công dân. Theo đó, mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm.
Điều 50 Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 quy định về quyền tự do kinh doanh như sau: “Quyền tự do kinh doanh của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Cá nhân có quyền lựa chọn hình thức, lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh, lập doanh nghiệp, tự do giao kết hợp đồng, thuê lao động và các quyền khác phù hợp với quy định của pháp luật”.
Theo Điều 7 Luật Doanh nghiệp 2020, các quyền tự do của doanh nghiệp bao gồm: tự do kinh doanh ngành, nghề mà luật không cấm; tự chủ kinh doanh và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh; chủ động điều chỉnh quy mô và ngành, nghề kinh doanh; lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn; tự do tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng. Ngoài ra còn các quyền như quyền quyết định việc thu hẹp hay mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, quyết định việc thay đổi địa điểm kinh doanh, thậm chí là quyền chấm dứt hoặc chuyển nhượng hoạt động sản xuất kinh doanh cho người khác.
Tại Điều 5 Luật Đầu tư 2020, nhà đầu tư có quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề mà pháp luật không cấm. Đối với ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thì nhà đầu tư phải đáp ứng các điều kiện đầu tư kinh doanh theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, nhà đầu tư được tự quyết định và tự chịu trách nhiệm về hoạt động đầu tư kinh doanh theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; được tiếp cận, sử dụng các nguồn vốn tín dụng, quỹ hỗ trợ, sử dụng đất đai và tài nguyên khác theo quy định của pháp luật.
Nội dung bảo đảm quyền tự do kinh doanh:
- Bảo đảm quyền tự do gia nhập thị trường kinh doanh: Quyền tự do gia nhập thị trường là quyền quan trọng đầu tiên của quyền tự do kinh doanh. Khi các cá nhân, tổ chức thỏa mãn các điều kiện về năng lực pháp luật, năng lực hành vi và ngành nghề kinh doanh không thuộc những ngành nghề mà pháp luật cấm thì Nhà nước phải công nhận và bảo đảm quyền gia nhập thị trường của doanh nghiệp, không được cản trở, ngăn cấm việc thực hiện quyền.
- Bảo đảm quyền tự do hoạt động kinh doanh trên thị trường: Quyền tự do hoạt động kinh doanh trên thị trường là quyền tự chủ quyết định các công việc liên quan đến kinh doanh. Đảm bảo cho các chủ thể kinh doanh được tự do hoạt động kinh doanh trên thị trường một cách bình đẳng, lành mạnh thì cần bảo đảm các nhóm quyền như quyền tự do sở hữu tài sản, quyền tự do hợp đồng, quyền tự do cạnh tranh, quyền tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động theo yêu cầu của doanh nghiệp,…
- Bảo đảm quyền tự do rút lui khỏi thị trường: Giúp cho các doanh nghiệp chấm dứt sự bế tắc khi không thể tiếp tục kinh doanh trong lĩnh vực ngành nghề cũ và có thể mở ra hướng đi mới trong hoạt động kinh doanh.
Quyền tự chủ, tự do kinh doanh của cá nhân, doanh nghiệp là quyền cơ bản như quyền nhân thân. Như vậy, để thúc đẩy tự do kinh doanh, Chính phủ cần chú trọng đến cải cách thực chất ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh. Huy động sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp vào xây dựng chính sách và thường xuyên thực hiện các đánh giá độc lập. Thực hiện hiệu quả các hoạt động đối thoại với doanh nghiệp. Đơn giản hoá, tạo sự minh bạch về thủ tục hành chính, duy trì sự ổn định của chính sách. Khắc phục bất cập do mâu thuẫn, chồng chéo trong quy định pháp luật.

Bình luận về bài viết này